I.
MỤC ĐÍCH :
Trình bày tiến tình cần
tuân thủ để bảo đảm công tác xây tường gạch từ lúc bắt đầu nhận hiện trường đến
lúc có thể bắt đầu công tác khác.
II.
PHẠM VI :
Áp dụng cho mọi công
trường thi công, đặc biệt là các công trường làm công tác hoàn thiện.
III.
TÀI LIỆU
THAM KHẢO :
· TCVN
4085:1985 Kết cấu gạch đá. Quy
phạm thi công và nghiệm thu
· TCVN
1450:1986 Gạch rỗng đất sét nung
· TCVN
1451:1986 Gạch đặc đất sét nung
· TCVN
4314:1986 Vữa xây dựng yêu cầu kỹ
thuật
· TCVN
4459:1987 Hướng dẫn pha trộn và sử
dụng vữa xây dựng
IV.
TRÁCH NHIỆM
:
Ban chỉ huy công trường
(BCHCT) phải hướng dẫn và kiểm tra việc tuân thủ hướng dẫn này khi thực hiện
công tác xây tường gạch.
V.
HƯỚNG DẪN :
A. Công tác chuẩn bị :
1. Mặt bằng :
1.1 Trước khi
xây, kiểm tra các đường tim, trục móng, tường, cột và cao độ chuẩn theo bản vẽ
quy định.
1.2
Xác định mốc cao độ, trục nhà và công trình
phải được kiểm tra, nghiệm thu và lập thành biên bản.
1.3
Trước khi xây móng, đáy và thành hồ móng phải
được kiểm tra và bảo vệ.
1.4
Khi các hố móng gần nhau có chiều sâu chân móng
khác nhau, phải đào bậc chuyển từ chiều sâu này sang chiều sâu khác.
2. Vật liệu, dụng cụ :
2.1.
Chuẩn bị đầy đủ các vật liệu, dụng cụ, tưới ướt
gạch trước, ngay khi vận chuyển gạch phải chọn trước những viên gạch có góc
cạnh cân đối, sắp xếp gạch nhẹ nhàng, không làm sứt vỡ các góc cạnh.
2.2.
Vật liệu chế tạo hỗn hợp vữa xây phải đúng quy
định, phải đảm bảo chất lượng.
2.3.
Các loại gạch xây phải đảm bảo yêu cầu về cường
độ, quy cách, tiêu chuẩn kĩ thuật như quy định và đảm bảo chất lượng.
2.4.
Bãi chứa vật liệu phải khô ráo, sạch, thoát
nước tốt, các vật liệu rời không đổ lẫn lộn với nhau.
2.5.
Gạch đá xếp đống phải đảm bảo kĩ thuật an toàn,
không được để mọc rêu, mốc, bẩn.
3. Vữa xây dựng :
3.1.
Đối với vữa, có khi tường trong và ngoài dùng
vữa có mác khác nhau, cho nên phải nói rõ cho những người vận chuyển vữa biết
để khỏi bị nhầm lẫn.
3.2.
Xác định liều lượng pha trộn vữa tiến hành
trước khi bắt đầu xây và được Chủ đầu tư chấp nhận.
3.3.
Vữa dùng trong khối xây gạch phải có mác và chỉ
tiêu kĩ thuật thoả mãn yêu cầu thiết kế.
3.4.
Vật liệu để sản xuất vữa phải đảm bảo yêu cầu
và tiêu chuẩn kĩ thuật.
3.5.
Khi xây dưới mực nước ngầm hoặc trong đất bão
hoà nước, phải dùng vữa đông cứng trong nước.
3.6.
Để nâng cao độ dẻo có thể cho thêm các chất phụ
gia dẻo theo chỉ dẫn cuả thiết kế.
3.7.
Thời gian trộn vữa bằng máy từ lúc đổ xong cốt
liệu vào máy trộn không được nhỏ hơn 2 phút.
Thời gian trộn vữa bằng
tay kể từ lúc bắt đầu trộn không được nhỏ hơn 3 phút. Trong quá trình trộn bằng
máy, hoặc bằng tay, không được đổ thêm vật liệu vào cối vữa.
3.8.
Vữa đã trộn phải dùng hết trước lúc bắt đầu
đông cứng. Nếu vữa đã bị phân tầng, trước khi dùng phải trộn lại cẩn thận tại
chỗ thi công.
3.9.
Khi thi công trong mùa hè, mùa khô, mùa gió
tây, phải đảm bảo đủ độ ẩm cho vữa đông cứng.
3.10.Chất lượng
vữa phải được kiểm tra bằng thí nghiệm mẫu lấy ngay tại chỗ sản xuất vữa.
3.11.Khi thay đồi
vật liệu, thay đổi thành phần và mác vữa phải thí nghiệm kiểm tra vữa.
4. Giàn giáo để xây :
4.1.
Các loại dàn giáo phải đảm bảo ổn định, bền
vững, chịu được tác dụng do người, do đặt vật liệu gạch đá có di chuyển các
thùng vữa trên dàn giáo khi xây. Dàn giáo không được gây trở ngại cho quá trình
xây dựng, tháo lắp phải dễ dàng, di chuyển không cồng kềnh khó khăn.
4.2.
Lưới bảo hộ khi lên cao, bao che phía trên khi
thao tác phía dưới trong khi các bộ phận khác đang làm việc bên trên.
4.3.
Giàn giáo chống không được dựa vào tường đang
xây, không bắc ván lên tường mới xây, dàn giáo phải cách tường đang xây ít nhất
là 0,05 m.
4.4.
Thường xuyên kiểm tra độ bền vững và độ ổn định
đúng yêu cầu kĩ thuật an toàn.
B. Các yêu cầu khi thi công kết cấu gạch xây :
a.
Gạch khi vận chuyển đến phải xếp gọn không được
chất đống.
b.
Chênh lệch độ cao giữa các phần kề nhau của
khối xây móng không được lớn hơn 1,2 m.
c.
Phải chừa sẵn các lỗ, rãnh đường ống nước,
đường thông hơi, chỗ có trang chí, ...
d.
Các biện pháp liên kết các khung cửa sổ và cửa
đi vào tường.
e.
Khi thi công khối xây bằng những blốc lớn, phải
đảm bảo những trình tự sau:
· Lấy dấu trục
móng, đánh dấu đường mép móng, định vị góc và những chố ghép nối;
· Đặt blốc góc
và các blốc làm mốc;
· Lấy dấu vị
trí blốc ở từng hàng;
· Xây blốc
theo đường ngắm.
f.
Khi xây xong mỗi hàng blốc, phải kiểm tra độ
ngang, bằng, độ cao các hàng đã xây.
g.
Độ ngang bằng, thẳng đứng của mặt bên và các
góc trong khối xây gạch đá phải được kiểm tra ít nhất 2 lần trong một đoạn cao
từ 0,5 m đến 0,6 m.
h.
Khi tạm ngừng xây phải để mỏ giật, không cho
phép để mỏ nanh.
i.
Ở những đoạn thi công gần nhau hoặc giao nhau
giữa tường ngoài và tường trong, độ chênh lệch và độ cao không được vượt quá
chiều cao của 1 tầng.
j.
Khối xây bên trên lanh tô phải đủ độ cao, đủ
cường độ mới được tháo gỡ vàn khuôn, thanh chống.
k.
Khi xây xong những kết cấu chịu lực của tầng
dưới mới được xây các kết cấu ở tầng trên tiếp theo.
l.
Cứ xây xong một tầng thì phải kiển tra độ ngang
bằng, đứng của khối xây.
m.
Không được va chạm mạnh, không được vận chuyển,
đặt vật liệu, tựa dụng cụ và đi lại trực tiếp trên khối xây đang thi công, khối
xây còn mới.
n.
Trong quá trình xây, nếu phát hiện vết nứt phải
ngừng xây và báo cho Chủ đầu tư để tìm nguyên nhân và biện pháp xử lí, đồng
thời phải làm mốc để theo dõi sự phát triển của vết nứt.
C. Các khối xây :
1.
Khối xây
gạch thường :
Các yêu cầu của khối
xây :
a.
Khối xây phải đản bảo những nguyên tắc kĩ thuật
thi công sau:
Ngang - bằng; đứng-
thẳng; mặt phẳng; góc- vuông; mạch không trùng; thành một khối đặc chắc.
- Khi xây tường
gạch phải đảm bảo nguyên tắc “trên ăn dây, dưới ăn mí”
“trên ăn
dây” có nghĩa là cạnh trên của viên gạch phải theo sát dây căng, vị trí của
dây căng thường cao hơn cạnh viên gạch nửa lằng một ít để cho dây có thể rúng
động theo mặt ngang, khi bị võng cũng dễ phát hiện.
“dưới ăn
mí” có nghĩa là cạnh dưới của viên gạch phải thẳng đều với cạnh trên của
viên gạch ở lớp dưới.
- Khi xây phải
biết chọn gạch. Khi cầm viên gạch trong tay cần phải xoay viên gạch xem mặt nào
cân đối, vuông vắn thì đặt phía ngoài. Những thợ nề lâu năm có kinh nghiệm,
thường mỗi lần nhặt một viên gạch là nhanh trí chú ý ngay hai viên xây tiếp
theo, định trước là sẽ đặt viên nào ở vị trí nào. Vì vậy họ nhặt gạch rất chính
xác, xây tườg rất đều và đẹp.
- Khi xây viên
gạch phải đặt thật bằng phẳng, rải vữa đều, không nên một bên dày, một bên mỏng
làm cho viên gạch bị nghiêng. Nếu tạo thành thói quen như vậy, thì mặt tường
xây xong sẽ bị gù hoặc trũng, có trường hợp tường tuy thẳng đứng nhưng mặt
tường gồ ghề. Khi xây xong một viên gạch phải ngắm xem nó có bằng phẳng không,
mặt gạch có thẳng theo dây không, nếu cao hơn, thấp hơn hoặc thò ra, thụt vào
quá nhiều thì phải điều chỉnh ngay.
b.
Vữa xây dựng phải có cường độ đạt yêu cầu thiết
kế và độ sụt như sau :
· Đối với
tường và cột gạch; từ 9 đến 13 mm;
· Đối với lanh
tô xây vỉa; từ 5 đến 6 mm;
· Đối với các
khối xây khác bằng gạch; từ 9 đến 13 mm;
c.
Kiểu cách xây và các hàng gạch giằng trong khối
xây phải làm theo yêu cầu của thiết kế.
d.
Kiểu xây thường dùng trong khối xây là một dọc
- một ngang hoặc ba dọc - một ngang.
e.
Khối xây gạch, chiều dày trung bình của mạch
vữa ngang là 12 mm, chiều dày này không nhỏ hơn 8mm và không lớn hơn 15 mm.
Chiều dày trung bình của mạch vữa đứng là 10 mm, chiều dày này không nhỏ hơn 8 mm
và không lớn hơn 15 mm. Các mạch vữa đứng phải so le nhau ít nhất 50 mm.
f.
Tất cả các mạch vữa trong khối xây phải đầy
vữa, phải đều và đặc chắc
Trong khối
xây mạch lõm, chiều sâu không trát vữa của mạch phía mặt ngoài như sau:
· Không lớn
hơn 15 mm - đối với tường;
· Không lớn
hơn 10 mm - đối với cột.
g.
Cấm không được dùng gạch vỡ, gạch ngói vụn để
chèn, đệm vào giữa khối xây chịu lực.
h.
Cho phép dùng cốt thép đặt trước trong tường
chính và cột để giằng các tường, móng.
i.
Trong khối xây hàng dưới cùng và trên cùng phải
đặt gạch nằm ngang, nếu hàng trên cùng nằm dưới các đáy dầm, sàn phải đặt gạch
xiên 45o.
j.
Sai số trong mặt cắt ngang của các gối tựa dưới
xà gồ, vì kèo, các dầm cầu trục và các kết cấu chịu lực khác theo bất kì một
hớng nào so với vị trí thiết kế phải nhỏ hơn hoặc bằng 10 mm.
k.
Khi ngừng thi công phải che kín trên khối xây.
l.
Không được chất tải lên khối xây khi khối xây
chưa đạt cường độ.
2.
Khối xây
lanh tô :
a.
Hai đầu ăn sâu vào mảng tường hai bên cửa ít
nhất 0,2 m kể từ mép cứng. Dưới hàng gạch cuối cùng của lanh tô, phải đặt một lớp
vữa cốt thép. Số lượng không ít hơn 3 thanh. Những thanh cốt thép tròn dùng cho
lanh tô phải có đường kính không nhỏ hơn 6 mm, hai đầu thép ăn sâu vào hai bên
tường ít nhất 0,25 m và có uốn móc.
b.
Lanh tô xây vỉa đầu dưới mạch có chiều dày ít
nhất 5 mm, đầu trên không dày hơn 25 mm. Lanh tô phải xây đồng thời từ hai đầu
dồn vào giữa, viên gạch khoá phải nằm chính giữa lanh tô.
Chỉ cho phép dùng lanh
tô xây bằng khi cửa có nhịp 1,2 m và xây vỉa khi nhịp trên 2 m.
c.
Mạch ngừng thi công đối với lanh tô xây cuốn
nhịp lớn được phép bố trí cách hai đầu của lanh tô một cung chắn góc ở tâm 300o.
Phần vành cung chắn còn lại phải xây hết trong các đợt tiếp theo.
d.
Gạch và mạch vữa trong lanh tô xây vỉa và xây
cuốn phải cùng hướng vào tâm của vòm cuốn.
e.
Thời hạn giữ lanh tô trên ván khuôn đảm bảo
khối xây đạt cường độ.
f.
Phần đua ra của mỗi hàng gạch trong khối xây
không lớn hơn 1/3 chiều dài viên gạch. Toàn bộ phận đua ra của mái đua gạch
không có cốt thép cho phép không lớn hơn 1/2 chiều dày tường.
g.
Mái đua
có neo trong tường chỉ được xây khi tường có đủ cường độ thiết kế. Trong mọi
trường hợp, đều phải chống giữ tạm đến khi mái đua và tường đạt cường độ yêu
cầu
h.
Tường xây chèn kín trong các nhà khung phải
liên kết với cột khung bằng các giằng thép.
3.
Khối xây
gạch cốt thép :
a.
Trong khối xây gạch có các lưới cốt thép ngang,
chiều dày của mạch vữa phải lớn hơn tổng đường kính các thanh thép đan nhau ít
nhất là 4 mm.
Khối xây cột và tường
cạnh cửa phải dùng các lưới cốt thép ngang đan chữ nhật hoặc uốn chữ chi, buộc
kĩ hoặc hàn chặt. Khoảng cách giữa các thanh trong lưới không nhỏ hơn 3 mm và
không lớn hơn 12 mm. Đường kính cốt thép trong lưới không nhỏ hơn 3 mm, không
lớn hơn 8 mm. Khi cốt thép có đường
kính lớn hơn 5 mm thì được làm lưới chữ chi.
b.
Không được đặt các thanh thép rời để thay thế
các lưới cốt thép buộc hoặc hàn trong khối xây.
Các đầu thanh cốt thép
nhô ra khỏi mặt ngoài khối xây khoảng từ 2 đến 3 mm để tiện kiểm tra.
c.
Lưới cốt thép ngang đặt vào khối xây theo chỉ
dẫn của thiết kế và không thưa quá 5 hàng gạch.
Lưới chữ chi phải đặt
sao cho các thanh thép của hai lưới trong hai hàng khối xây kế tiếp nhau có
hướng thẳng góc với nhau.
d.
Đường kính của thanh cốt dọc không nhỏ hơn 8 mm,
cốt đai từ 3 đến 6 mm. Khoảng cách lớn nhất giữa các cốt đai không lớn hơn 5 mm.
Cốt dọc phải nối với
nhau bằng liên kết hàm hoặc buộc bằng dây thép, đoạn nối dài 20d.
Các đầu thanh cốt thép
chịu kéo phải uốn móc và neo vào lớp bê tông hoặc vữa.
e.
Đảm bảo chiều dầy lớp bảo vệ cốt thép.
|
Các loại
kết cấu gạch cốt
thép |
Chiều dầy
lớp bảo vệ cho cốt thép đặt ở |
||
|
Trong các
phòng có độ ẩm
không khí bình
thường |
Trong các
cấu kiện xây ngoài
trời |
Trong
móng, các phòng ẩm
ớt |
|
|
Dầm và cột |
20 |
25 |
30 |
|
Tường |
10 |
15 |
20 |
4.
Khối xây
vòm, vỏ mỏng :
a.
Đối với khối xây vòm, vỏ mỏng hình trụ, vỏ mỏng
cong hai chiều ván khuôn phải có kết cấu sao cho khi dỡ được đều nhau. Cột
chống phải điều chỉnh được.
b.
Sai lệch kích thước ván khuôn vỏ mỏng cong hai
chiều không lớn hơn các trị số quy định sau: Đối với trị số độ võng tại điểm
bất kì: 1/200 trị số độ võng của vỏ; độ xê dịch ván khuôn ở tiết diện giữa so
với mặt phẳng đứng: 1/200 trị số độ võng của vỏ; đối với chiều rộng nhịp vỏ:
10mm.
c.
Trước khi xây phải chia trước lên ván khuôn và
điều chỉnh cho chẵn viên gạch.
d.
Tránh những va chạm mạnh làm méo, lệch ván
khuôn.
e.
Trong khối xây vòm, vỏ,… không được dùng vữa xi
măng đông cứng chậm, ở nhiệt độ thấp.
f.
Sau khi xây xong phần tường đỡ chân vòm, vỏ
móng…, ít nhất 7 ngày mới được xây vòm và vỏ.
g.
Việc căng dây trong các vòm và vỏ phải làm ngay
sau khi xây xong khối xây đó.
h.
Việc tháo dỡ ván khuôn phải đảm bảo không ảnh
hưởng đến chất lượng khối xây.
i.
Sau khi tháo ván khuôn mới xây các tường vượt
đầu hồi.
j.
Khi xây vỏ mỏng và vòm, phải xây đồng thời từ
hai chân dồn vào giữa.
D. Vệ sinh sau khi xây xong :
Sau khi xây
xong phải làm sạch mặt tường ngay, khi xây, người thợ dùng bay cạo vữa lòi ra
ngoài mạch gạch, nhưng mặt tường vẫn không sạch, mà còn rơi rớt lại vữa thừa.
Sau khi xây xong một tầng giàn giáo cần dùng chổi quét sạch mặt tường. Nếu
không kịp thời làm sạch mặt tường, thì vữa còn rơi rớt trên mặt tường sẽ đông
cứng, về sau rất khó làm sạch, gây khó khăn cho việc trát và trang trí sau này.
E.
An toàn lao
động (ATLĐ) và vệ sinh môi trường :
a.
Phải tuân thủ theo các biện pháp ATLĐ đã được
lập ra.
b.
Kĩ sư, kỹ thuật viên và công nhân cần được học
tập quy định về an toàn lao động trước khi thi công và thường xuyên được nhắc
nhở. Phân công một cán bộ kiểm tra kỹ thuật ATLĐ.
c.
Công nhân khi làm việc phải có đầy đủ trang bị
bảo hộ; phải đeo dây an toàn khi lên cao
d.
Lưới bảo hộ khi lên cao, bao che phía trên khi
thao tác phía dưới
e.
Phân người kiểm tra giàn giáo trong suốt quá trình thi công;
f.
Các đường dây điện phải đảm bảo an toàn khi thi
công;
g.
Sau mỗi ca làm việc các thiết bị phải được vệ
sinh sạch sẽ và trả lại kho công trường.
VI.
KIỂM TRA VÀ
NGHIỆM THU :
1.
Nghiệm thu trước khi tiến hành công việc tiếp
theo.
2.
Kiểm tra và nghiệm thu :
a.
Bảo đảm mạch không trùng, chiều dày, độ đặc của
mạch, độ thẳng đứng và nằm ngang, độ phẳng và thẳng góc…) ;vị trí các hàng gạch
giằng;
b.
Việc đặt đúng và đủ các bộ phận giằng neo;
c.
Việc thi công chính xác các khe lún, khe co
giãn;
d.
Việc thi công đúng các đường ống thông hơi, ống
dẫn khói,vị trí các lỗ chừa sẵn;
e.
Kích thước của khối xây;
f.
Đặt và gia công cốt thép;
g.
Các tài liệu xác định mác vật liệu, bán thành
phẩm và sản phẩm được sử dụng.
|
STT |
Nội dung kiểm tra |
Phương pháp kiểm tra |
|
1 |
Sai lệch đường tim |
Thước thép |
|
2 |
Sai lệch về kích thước |
Thước thép |
|
3 |
Độ thẳng đứng của tường |
Thước nhôm 2m, quả dọi |
|
4 |
Độ sai lêch hàng |
Mắt, thước thép |
|
5 |
Độ bằng phẳng của mặt tường |
Thước nhôm 2m |
|
6 |
Mạch vữa (chiều dày, độ thẳng của mạch
nằm ngang) |
Mắt, thước thép |
0 Nhận xét